HTML5 Icon
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Tính cộng đồng rất cao của người Mường thể hiện trên nhiều lĩnh vực. Những dịp Tết đến, xuân về, tinh thần ấy như là sự sâu thẳm của tâm linh và rạng rỡ nụ cười.

Ai mà biết được núi có từ bao giờ. Chỉ biết rằng lúc nào núi cũng trầm ngâm, tự tại. Ai đến với núi, núi cũng rộng lối cho thỏa thuê mà khám phá. Lộ thiên có, trầm tích có. Hỏi người đến có thực lòng? Núi không giấu ai điều gì. Núi mở lòng đón tiếp và chở che. Đến rồi đi là sự tất nhiên của cơ học. Đến rồi gắn bó là sự mong muốn của con người. 

Người ngay đi tới đâu quang đến đấy, người gian thì ngược lại, như người miền núi nói: “Chưa nhấc chân thì tay đã kéo rong gai rào lối”. Đối với núi, ai đến, ai đi, cứ tùy. Đọng lại trong nhau thì quý. Bỏ nhau đi, núi cũng không bao giờ “rũ áo kiểm tra”. Ấy là phong thái của người quân tử.

Có nhiều người đến với núi rừng. Mỗi người ghi nhận núi rừng ở một góc độ. Riêng tôi, núi rừng có một vẻ đẹp quyến rũ và bền lâu. Nhất là tình người. Nhân dịp Tết đến, xuân về, tôi thổ lộ lòng mình với cách đón nhận và cư xử của cộng đồng người Mường Hòa Bình về Tết – nơi tôi được đắm chìm trong bạt ngàn văn hóa.

Trước đây, người Mường không phân tán ra nhiều cái Tết như những dân tộc khác. Cái Tết gốc của người Mường là Tết Nguyên đán. Từ Tết Nguyên đán tỏa ra Tết Khai hạ, Tết Cơm mới. Tết Khai hạ là Tết xuống đồng thường vào ngày mồng bảy tháng Giêng mở đầu cho một năm mới, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người dân no ấm. Tết Cơm mới thường vào tháng mười âm lịch để tạ ơn trời đất phù hộ nên một năm sản xuất được mùa, những bát cơm thơm được dâng cúng trời đất, tổ tiên… Chỉ vậy, người Mường không cúng Rằm và ngày mồng một hằng tháng như người Kinh.

Đoàn sắc bùa đi chúc Tết - Ảnh Bùi Thanh Bình.

Cũng vẫn nằm trong đời sống văn hóa tâm linh, người Mường không có ngày giỗ riêng cho từng người. Hàng năm vào dịp Tết Nguyên đán, người Mường có một lễ cúng chung cho tiên tổ. Thường vào các ngày từ 25 đến 27 tháng Chạp, con cháu theo bố mẹ tới phát dọn mồ mả các cụ rồi có trầu, hương xin phép thổ địa mời các cụ về ăn Tết cùng con cháu. Ngày này gọi là ngày làm Tết.  Ra Giêng, mới làm mâm cỗ cúng thổ địa và chia tay các cụ về với Mường Ma tại nghĩa địa giống như ngày Thanh minh. Như vậy, không chỉ có Tết của người sống, mà người Mường còn có Tết của người đã chết ở Mường Ma.

Trong mâm cỗ cúng ngày Tết thể hiện rất rõ. Mâm cỗ chọn đủ các bộ phận của con vật mổ thịt, như thịt lợn chẳng hạn. Tất cả các bộ phận được thái rất mảnh, rất đẹp rồi bày trên mâm lá theo hình tròn kiểu rẻ quạt – cỗ lá. Ở giữa bày một ít xương băm, thịt nạc, ruột già. Phía trên của mâm lá, bày vài miếng gan quay ngược là để cho thần, cho người Mường Ma ăn. Trái với cho người sống ăn thì bày theo chiều xuôi.

Trên nhà sàn của người Mường, ban thờ chạy dài nhiều gian nhà ngoài và lấy cửa voóng (cửa sổ hướng chính) làm căn cứ để đặt mâm cúng. Theo đó, mâm ngoài cùng cúng bố, mẹ. Vì bố mẹ là gần nhất với gia chủ (tất nhiên người đứng cái là thế hệ cao nhất còn sống trong gia đình); mâm thứ hai đặt ở gian thứ hai cúng ông, bà; mâm thứ  ba đặt ở gian trong để thờ cụ kỵ. Nếu biết phong tục người Mường, thì chỉ cần nhìn cách bài trí mâm cúng ngày Tết, là biết mâm ấy cúng những ai.

Thí dụ: Mâm cúng bố mẹ, ông bà thì chỉ có hai đôi đũa. Mâm cúng cụ, kỵ thì có một nắm đũa, người Mường gọi là “Cơm đống, đũa nắm”, ngụ ý thờ, cúng nhiều cụ, kỵ… mà con cháu không nhớ hết. Một điều đặc biệt là người Mường còn thờ cả bên ngoại. Ở voóng trong đặt mâm thờ tổ tiên bên ngoại, với cách nghĩ chỉ mình người đàn ông thì không thể sinh ra con người. Do đó các gia đình thờ cả bên nội, bên ngoại. Điều này hoàn toàn khác người Kinh và nhiều dân tộc khác chỉ cúng giỗ bên nội.

Khi các mâm lễ đã đủ, đã đặt vào đúng vị trí, ông mo thay mặt buổi lễ ra lệnh cho thắp hương. Trong khói tỏa hương trầm, ông mo bắt đầu hành lễ. Bài khấn gọi là lời mo rất dài, tỷ mỷ, con cháu như nhìn thấy tiên tổ đang về. Khi người ở Mường Ma đã về đủ, ông mo mời các vị rửa chân rồi trèo màn thang lên nhà. Mọi người yên chỗ thì mo mời uống nước, ăn trầu và trò chuyện, hỏi thăm nhau. Sau đó mời món nước thanh sạch để tráng miệng rồi vào bữa chính. Đa số các dân tộc khác ăn xong rồi tráng miệng, người Mường thì tráng miệng trước khi ăn.

Trong bữa ăn (tượng trưng) của các cụ ở Mường Ma về, ông mo thể hiện nhiều bài mời dí dỏm, súc tích như mời món này, món kia, xen vào các câu chuyện làm vui không khác gì đối với người sống.  Khi các cụ “ăn” xong, ông mo khấn lại: “Cơm ăn không hết dậy thu vào sọt/ Rượu uống không hết dậy thu vào vò/ Thu hết lễ lạt con cháu dâng cho/ Mang về cho người ở Mường cái Ma. Rồi xin mời các cụ trở về Mường Ma. Con cháu ở lại xin được “rút mâm lui, lùi mâm xuống” để hưởng lộc của các cụ”. Lúc này, những miếng gan bày ngược cho người Mường Ma sẽ được quay xuôi cho người sống ăn.


Gói bánh Tét ngày Tết - Ảnh Bùi Thanh Bình.

Những mâm cỗ được sắp xếp lại, đặt vào đúng vị trí. Tất cả con cháu xếp hàng đứng phía dưới làm động tác lạy kính bậc cao niên, ông bà, bố mẹ. Một người già có uy tín đứng lên cảm ơn con cháu và chúc một năm mới nhà nhà đoàn kết, ai ai cũng đều khỏe mạnh, làm ra nhiều lúa gạo, lợn, gà để cung phụng người già.

Người đại diện ngồi xuống, con cháu rửa tay bằng nước sạch, nếu trời lạnh thì pha nước ấm rồi bắt đầu ngồi mâm theo thứ bậc và giới tính. Đó là: “Đàn ông voóng ngoài/ Đàn bà voóng trong”. Và cách ngồi: “Con trai xếp bằng/ Con gái xếp mái” thì bắt đầu buông cỗ. Khách cảm ơn và chúc gia chủ:“Năm cũ đã qua/ Bước chân ra mùa năm mới/ Gia đình tổ chức cái bữa hôm nay/ Trước là dâng tổ tiên, thần thánh/ Để được phù hộ, bênh bao/ Cháu con mát mẻ, khỏe mạnh/ Dưới sân đầy lợn, đầy gà/ Đồng ruộng đầy lúa, đầy thóc/ Gấm vóc đầy cửa, sáng nhà…/ Sau lại còn có mâm cỗ nhắm/ Thết đãi chúng tôi là ông, là bà/ Là chú, bác, anh em/ Ăn uống nhờ no say/ Xin cám ơn nhiều nhiều”.

Chủ nhà đáp lại: “Vâng! Xin cám ơn lời đẹp, lời lành/ Mỗi năm một kỳ/ Lễ cũ không dám qua/ Lễ ma không dám bỏ/ Hôm nay thờ phụng tổ tiên/ Ơn các bố, các mế/ Các anh, các chị/ Còn về ở chơi/ Làm cho vui cửa vui nhà/ Lẽ ra phải có/ Đồ ăn thức uống/ Thết đãi anh em, họ hàng mới phải/ Nhưng đến bữa chẳng có gì/ Chút cơm khô, muối trắng/ Thấy sao/ Các bố, các mế/ Các anh, các chị/ Thương lấy gia đình chúng tôi/ Xin mời ở chơi, ăn uống”. Thế rồi trong bữa Tết, mọi người mời ăn, mời uống, chúc nhau rất vui vẻ.

Đặc biệt trong văn hóa chúc nhau, mời rượu của người miền núi nói chung, người Mường nói riêng rất bài bản. Lời chúc, lời mời đều là lời ví, đúm đối đáp với nhau. Những câu hát, câu mời vừa xa xôi, vừa gần gũi. Có khi cao độ, cuộc hát mời kéo dài nửa giờ mà chưa uống chén rượu. Chính trong những cuộc như thế, khách lạ thường bị say nếu không biết cách uống rượu của người Mường. Nếu nói là mình say thì người mời nói đó là “say tình, say nghĩa” chứ không phải say rượu. Thật đúng là“Câu mời bỏ bùa khách xuôi, khách ngược/ Vầng trăng bỏ bùa sừng rượu hây hây/ Tiếng gà mon men đêm ví đúm” là vậy.

Ngày nay đa số các gia đình người Mường Hòa Bình ở quê vẫn tổ chức cho cái Tết Nguyên đán và các bữa Tết bài bản như trên. Nhiều nơi đã khôi phục đi chúc Tết theo đoàn sắc bùa. Đó là một đội chiêng có nam, có nữ đến từng nhà tấu bài chiêng chúc Tết. Gia chủ rất vui mời đoàn sắc bùa chiêng trèo màn thang lên nhà ăn Tết, uống rượu và hát Mường đối đáp rất thông minh, tình tứ xao động khắp bản Mường. Ngày Tết khách đến chơi nhà, khi ra về đều được gia chủ biếu đôi bánh chưng dài hoặc bánh ốc (gạo nếp gói bằng lá cây chít giống như củ ấu) làm quà.

Kinh tế thị trường sôi động. Nhiều nơi ở miền núi đã “làng rừng đang phố”. Hiện tại nhà sàn truyền thống ít dần. Tuy vậy nhà sàn bê tông lại đang phát triển, nhất là tại huyện Lạc Sơn, Kim Bôi… Khi đời sống vật chất khá giả thì bà con lại quan tâm khôi phục đời sống tinh thần, mà rõ nhất là trong những ngày Tết, bữa Tết mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Mường!

https://vnca.cand.com.vn/dien-dan-van-nghe-cong-an/Tet-cua-nguoi-Muong-i596546/?fbclid=IwAR3Wln7UYSgt8L7YIkgGqR55TsuY4n4iI-80qSCiFIEQ190PBCnyrk-bbAI

Linh Anh

 

Sơn La : Với 2000 cây thông nhập khẩu khu vườn đang rất nhiều du khách đến check in 

Đây cũng là không gian cho các em nhỏ và cả gia đình thư giãn mỗi dịp cuối tuần.

Vườn thông rộng khoảng 1 hecta, nằm ở tiểu khu Bó Bun, thị trấn Nông Trường ở trung tâm huyện Mộc Châu, đón khách từ giữa tháng 11.

 


Thông ở đây chủ yếu là hai giống Nobilis và Siberi, nhập khẩu từ Đan Mạch và Nga. Thông được trồng thành hàng lối, phân loại theo độ cao, từng cây được cắt tỉa.

Chị Hải Phượng, chủ vườn, cho biết đây là vườn thông duy nhất ở Mộc Châu.



Mỗi cây thông đều được trang trí quả chuông, sao bạc, dây nơ, ruy băng... Xen kẽ giữa vườn thông tỏa hương là những cuộn rơm, căn lều, ghế gỗ... tạo thành các tiểu cảnh.




 

Sao Mai (27 tuổi, sống tại Mộc Châu) vừa tới vườn thông chụp bộ ảnh Giáng sinh, cho biết: "Tôi thấy khung cảnh thơ mộng, mùi thơm dễ chịu, như đang nơi nào đó tại châu Âu chứ không phải ở Mộc Châu. Thời gian tới nếu có bạn bè đến Mộc Châu tôi sẽ dẫn mọi người đến thăm vườn".

 

Theo chủ vườn, từ khi mở cửa, những ngày trong tuần lượng khách đạt khoảng 100 lượt một ngày. Vào cuối tuần vườn đón 200-300 lượt tham quan. Giá vé vào cổng để trải nghiệm là 30.000 đồng một lượt.

 

Vườn mở cửa cả chiều tối.

Chị Hải Phượng nói thêm, gia đình chị làm về thiết kế cần sử dụng các dòng thông ngoại nhập nhiều nên năm 2020 đã trồng thử loại này ở Hà Nội. Nhưng thông chậm phát triển, mỗi năm chỉ lớn được khoảng 1-2 cm. Do đó, chị Phượng đã đưa giống này lên Mộc Châu, nơi có khí hậu phù hợp hơn, quy hoạch nhân giống thành một khu rừng nhỏ, vừa cung cấp thông cho nhu cầu trang trí, vừa là nơi để mọi người tới tham quan.

Theo Vnexprees

 Hòa Bình mang đến nhiều đặc sản hấp dẫn, trong đó phải kể đến các loài cá như lăng, chép, mè, trắm...



Cá kẹp thanh tre, nướng trên bếp than hồng là đặc sản dễ tìm thấy trên đường lên động Thác Bờ. Những mẻ cá thiểu, ngão được làm sạch vảy, ruột, ướp muối tiêu rồi nướng . Cá sau đó được bày lên lá chuối xanh, ăn kèm lá sấu non, lá mơ, lá lốt. Thịt cá chắc, ngọt và thơm phức mùi nướng than và thoang thoảng hương chuối, tre.



 Do dịch bệnh covid 19 nên năm nay nhà thờ Giáo xứ Mường Riệc sẽ không tổ chức lễ Giáng Sinh. Nhưng vẫn trang hoàng để mừng đại lễ







❤
Lại một mùa Noel nữa sắp đến,một năm lại chuẩn bị qua.
Noel năm nay không được thấy dòng người chen chúc đi xem lễ hội, đi chơi ở nhà thờ nữa.
Thôi thì năm nay dịch bệnh, mọi người hãy cùng nhau ở nhà và giữ gìn sức khỏe nhé!


Chờ mùa Noel năm sau, dịch ổn hơn chúng ta sẽ cùng người thân đi lễ.





Với những đặc trưng văn hóa “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”. Trong tập quán đó “ngày lui tháng tới” là một đặc trưng độc đáo, riêng biệt bởi họ tính thời gian bằng “lịch Đoi” - bộ lịch cổ của đồng bào Mường.




Lịch Đoi hội tụ những tri thức dân gian của người Mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về mùa vụ, đoán định thời tiết, đoán định ngày tốt xấu… dựa trên sự tuần hoàn của sao Đoi và mặt trăng. Tất cả mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt thường ngày, phong tục, nghi lễ, lễ hội của cộng đồng, những việc quan trọng của người Mường Bi đều dựa vào cách tính cát hung của bộ lịch Đoi.



Cách tính vụ mùa từ lịch Đoi

Biểu hiện rõ nét nhất sự ảnh hưởng của lịch Đoi trong sản xuất nông nghiệp ở Mường Bi đó là vai trò của lịch trong lễ hội Khai Hạ (Xuống đồng). Đây là lễ hội nông nghiệp lớn nhất ở vùng Mường Bi. Trước đó, họ vẫn làm những công việc đồng áng, tuy nhiên trong tâm thức của người Mường ở Mường Bi thì chỉ sau ngày Khai Hạ được tính theo lịch Đoi thì họ mới chính thức bắt tay vào công việc sản xuất vụ mùa mới. Từ lịch Đoi mà người Mường đã đúc kết thành những câu tục ngữ: “Kháng Hai, kháng Pa đã hết lọ nà đi là trên rọong (Tháng Hai, tháng Ba đã hết lúa nước thì đi trồng lúa nương).


Ngoài việc được áp dụng trong tính vụ cấy thì lịch Đoi còn được vận dụng trong việc đánh bắt. Trong các tháng của lịch Đoi thể hiện ngày mưa, ngày cá nên người dân trong vùng Mường có thể biết được cách tính ngày đi đánh bắt cá. Vào những ngày này, người dân Mường Bi thường chuẩn bị nơm, giỏ, vó… để đánh bắt. Tuy nhiên, trước khi đi đánh cá họ cũng phải xem giờ để đi, tránh giờ xấu. Nếu đi đúng giờ xấu thì dù ngày đó là ngày cá nhưng cũng sẽ không bắt được cá.

Trong nghi thức tín ngưỡng

Ngoài việc xem thế sự để tiến hành làm ăn, cưới hỏi thì các nghi thức tín ngưỡng cũng là một công việc sử dụng tới lịch Đoi rất nhiều. Thông qua lịch Đoi, các thầy mo, thầy cúng có thể biết được nguyên nhân tại sao người ốm lại bị ốm, hay họ đi vào giờ nào nên bị như vậy…. Trong đám ma, thầy cúng thường xem ngày chôn và giờ chôn người chết thông qua lịch Đoi.
Người Mường là một dân tộc có tín ngưỡng đa thần, do đó họ thờ thần thổ địa, thần sông, thần núi…. Việc thực hành các nghi thức tín ngưỡng với các vị thần cũng được người Mường Bi dựa theo cách tính lịch Đoi.

Lễ hội của người Mường

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt cộng đồng, là ngày hội của tất cả mọi người do đó ngày được chọn làm ngày hội phải là ngày tốt lành đối với tất cả mọi người. Theo lịch Đoi, các ngày tốt cho lễ hội là các ngày phải mát mẻ, xem trong lịch không có điềm xấu. Những ngày tổ chức lễ hội, trên lịch không được khắc vạch thể hiện đó là ngày mưa, ngày bão và đặc biệt không được ngày Đoi. Bởi vậy, người Mường Bi đã chọn ngày theo lịch Đoi để tránh lễ hội diễn ra vào các ngày xấu.

Họ chọn một ngày tốt để bắt đầu lễ hội và chọn một giờ lành để tiến hành phần lễ. Người Mường Bi quan niệm chỉ có giờ lành giờ tốt thì thần linh mới có thể chứng giám và phù hộ cho những lời cầu xin của họ. Thường ngày và giờ làm lễ hội là do các thầy Mo có uy tín trong vùng xem lịch Đoi và đưa ra quyết định.

Lịch Đoi trong tập quán dựng nhà




Làm nhà mới là một công việc rất lớn đối với người Mường ở Mường Bi, chính vì thế từ khi bắt đầu đào móng nhà họ đã phải tiến hành xem ngày tốt để làm. Có một ngày theo quan niệm của người Mường Bi nếu làm nhà sẽ thuận lợi và tốt đẹp, mọi công việc sẽ vẹn toàn nhất. Đó là ngày Cây tha. Người Mường Bi có câu: “Là mùa cây tha, là nhà cây trong” (Làm mùa vụ vào ngày cây tha, làm nhà vào ngày cây trong). Họ cho rằng những ngôi nhà được chọn làm vào các ngày ấy thì ngôi nhà sẽ trở nên vững chắc, kín đáo và không ai có thể làm điều gì xấu xa hay động chạm tới ngôi nhà của họ.


Với người Mường, lợp mái nhà là công đoạn quan trọng nhất trước khi hoàn thành ngôi nhà mới. Công việc lợp mái được gia chủ xem trong lịch Đoi xem tuổi của ai sẽ hợp với tuổi của gia chủ sẽ là người đặt cây tre cuối cùng lên nóc nhà, nghi thức này được người Mường gọi là lắp toóc nhà. Họ rất quan tâm tới công việc này vì đây được coi là một thể thức tâm linh đặc biệt trong việc làm nhà mới.

Lịch Đoi trong hôn nhân

Cưới xin trong phong tục tập quán của người Mường Bi, Tân Lạc thường không thể bỏ qua các yếu tố tâm linh. Từ ngày được chọn để dạm ngõ đến việc ấn định ngày cưới đều phải hỏi thầy Mo để xin ngày lành tháng tốt. Trong lịch Đoi, những tháng Cây trong là những tháng phù hợp cho việc cưới xin. Các tháng đó là tháng Hai và tháng Ba (tương ứng tháng 11 và tháng 12 âm lịch). Đây là các tháng được coi là tháng đại an, mọi sự như ý. Người Mường nơi đây thường nói: ‘‘Kháng Cây trong thong đong ăn cưới’’ (Tháng Cây trong thường đi khắp nơi để ăn cưới). Trong khi tiến hành hôn lễ, thầy cúng cũng phải chọn giờ tốt để cho đoàn rước đi rước dâu và đón dâu mới về nhà. Giờ đi đón dâu và rước dâu về nhà chồng được chọn vào giờ Khóa rỏ. Khi về đến nhà thầy cúng tiếp tục xem giờ theo lịch Đoi để cúng ông bà tổ tiên. Có thực hiện được như vậy thì gia đình mới được yên ấm, vợ chồng hạnh phúc, ăn nên làm ra, con cháu đầy đàn.


Lịch Đoi trong tất cả các mặt đời sống của người dân Mường Bi dù ít hay nhiều, sâu sắc hay không tùy vào từng khía cạnh khác nhau. Đoi là một loại lịch pháp giúp người dân đoán định được ngày giờ tốt, xấu, cách xác định được vụ mùa nông nghiệp và quan trọng là nó giúp người dân yên tâm và ổn định về mặt tinh thần khi tuân theo nhũng quy luật và cách tính của lịch Đoi.


Mặc dù có hệ thống dẫn nước bằng máng và lấy nước bằng các guồng nước lớn, nhưng người Mường Thái vẫn chỉ dùng nước đó để tưới tiêu, giã gạo (cối giã gạo nước), chứ nước ăn uống người ta lấy riêng từ một mó (nguồn, mỏ) nước sạch và dường như không bao giờ cạn. 




Mó nước này được bảo vệ chặt chẽ vì nó cung cấp nước sạch có thể uống được ngay cho cả bản làng. Và người ta chỉ có thể lấy nước đó bằng các đồ đựng như ống bương lớn hay ống tre nhỏ. 

Hàng ngày phụ nữ, hay có thể đàn ông, cõng (vác) hai ống bương dài tới 2 thước trên vai mang nước về bếp lớn trong gia đình, nước này dùng nấu ăn, uống. Người ta có thể chế thêm các ống đựng nước nhỏ bằng nứa và gánh từ nguồn về, những ống nước nhỏ này thường gài ở phía trước nhà để khách và mọi người có thể uống luôn. 


Kết quả hình ảnh cho các nước băng ống tre

Hình ảnh người phụ nữ vác ống bương nước dài rất điển hình trong sinh hoạt bản làng Mường xưa.


Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới – đó là câu tục ngữ của người Mường để nói đã tóm tắt toàn bộ cuộc sống của người Mường vẫn được coi là cội nguồn của người Việt. Cùng với thời gian, trong lối sống ấy nhiều thứ đã mai một.

Trong phong cách sống đó hiện chỉ còn lại cơm đồ - đồ xôi là được người Việt gìn giữ và tục đồ xôi cúng tổ tiên, cũng là tưởng nhớ cái tập tục lâu đời của quá khứ dân tộc mình. Còn những tập tục khác trong câu tục ngữ trên thì người Việt không còn giữ nữa và thực tế khi xuống đồng bằng sinh sống thì nhà gác (nhà sàn) và lấy nước bằng cách vác cũng không còn cần thiết. Tục thui lợn cũng không còn, với người Việt (Kinh) lợn thịt ra thì dội nước sôi, cạo lông rồi chế biến, tuy nhiên với thịt trâu, bò, chó thì vẫn thui như cũ.



Cơm đồ
Chúng ta cùng thử lần vào trong câu tục ngữ này để xem những cách thức sinh sống có một ý nghĩa và quá trình thế nào, chúng nảy sinh do ý muốn chủ quan của con người hay đó là sự bắt buộc khi con người tiếp xúc với tự nhiên.

Trước khi giống lúa chiêm được du nhập từ người Chàm vào miền Bắc, thì phía Bắc Việt Nam có lẽ chỉ có giống lúa nương và giống lúa mùa được thuần hóa từ lúa nương. Lúa chiêm trồng vụ Hè, năng xuất khá cao, thích hợp với ruộng nước là thành quả của người Chàm từ Nam sông Gianh cho đến Phan Rang. Giống lúa này được đưa sang Nhật Bản từ thế kỷ 7 và được người Nhật gọi là lúa Lin ji (Lâm Ấp, tức là giống lúa của người Chiêm Thành), lúc đó có sự kiện thiên đô của triều đình Nhật Bản ở Na Ra nên có một đoàn ca vũ, giáo sĩ sang Nhật mang theo một đoàn vũ nhạc và giống lúa. Sự kiện này đã được ghi lại ở các chùa Na Ra. Giống lúa nương cổ, khi nấu dùng ít nước hơn lúa chiêm và ăn cũng dẻo hạt hơn, giống như lúa nếp, có thể nói nó có vị nằm trung gian giữa lúa nếp và lúa tẻ, giống lúa này khi nấu hợp với việc hấp chín bằng hơi hơn là nấu chín bằng nồi với nước sôi. Người ta có thể cho gạo vào ống nứa, với ít nước, nút kín lại và đốt bên ngoài, đó chính là cơm lam, ăn rất dẻo, như xôi nén. Dụng cụ để đồ của người Mường, Thái, Tày tương đối giống nhau là một chiếc chõ bằng gỗ cao gọi là quốp, nắp và đáy đều có thể tháo rời, khi đồ, người ta lồng chõ gỗ vào miệng nồi đồng, gắn chặt xung quanh, hơi nước từ nồi đồng xông lên chõ gỗ cho vách ngăn thông hơi, đặt gạo và gạo hoàn toàn chín bằng hơi nóng, chứ không trực tiếp với nước như nấu cơm bằng nồi. Khi cơm chín người ta dỡ ra cái rá có chân, và mọi người cứ việc ăn bằng tay.



Đồ cơm trong gia đình người Mường
Văn minh Việt và văn minh Chàm kề cận nhau, nên việc giống cây được lan truyền đi trước cả quan hệ chính trị và những cuộc chiến tranh, thoạt tiên theo con đường chim chóc di cư theo mùa. Người ta cho rằng người Việt tiếp xúc với giống lúa chiêm sớm là thế kỷ 3, và muộn là thế kỷ 5 - 7, khi hai bên biết nhau nhiều hơn, và có thể đến thời Đinh, Tiền Lê (thế kỷ 10) giống lúa chiêm đã phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ. Miền Nam Trung Quốc cũng du nhập giống lúa này. Thói quen ăn gạo tẻ (lúa chiêm) đã khiến cái bụng của người Việt khó có thể ăn gạo nương dẻo và gạo nếp lâu ngày, nên nó được dùng chủ yếu trong việc ăn thêm, ăn chơi và giỗ chạp. Một loạt các giống gạo thơm và dẻo ở miền Bắc xưa như gạo tám, gạo dự, gạo tám thơm… có thể đều là các giống lúa trung gian của giống lúa nương cổ và lúa chiêm.



Đối với người Mường, đồ không chỉ dùng cho việc nấu cơm mà là cách nấu đặc trưng, nấu rau, cá người ta đều cho vào chõ gỗ đồ cả, thậm chí phía dưới đồ gạo nương, phía trên đồ rau, và được ngăn bởi một vách tre đan không ảnh hưởng gì cả. Tức là tất cả các thực phẩm đều có thể nấu chín bằng đồ hấp hơi và đó là một phong cách ẩm thực của người Mường cho đến tận ngày nay.





Từ cái chõ gỗ của người Mường dùng vào đồ gạo nương, nấu rượu, người Việt (Kinh) cũng sử dụng các loại chõ sành, chõ đồng, tức là về nguyên lý là đồ dùng hấp hơi cách thủy các loại thực phẩm, chủ yếu là nấu cơm nếp (đồ xôi) và nấu rượu. Cái chõ sành được dùng phổ biến hơn, khi giỗ chạp, lễ tết hàng năm và phục vụ cho nghề bán xôi ở các đô thị. Giữa gạo nương và gạo nếp đều chung vị dẻo thơm, nhưng khác nhau về loại lúa, người Việt coi gạo dẻo nương vẫn thuộc giống tẻ, còn gạo đồ xôi thuộc giống nếp, hạt tròn hơn, và nấu với rất ít nước. Xôi trở thành một ẩm thực phong phú của người Việt, ngoài xôi trắng truyền thống, được chế biến thành xôi ngô, xôi đỗ (xôi xéo), xôi lạc, xôi dừa, xôi vừng, xôi nén, xôi chè… đi kèm với xôi là vài loại thực phẩm như thịt, trứng, giò, chả, vừng lạc, đỗ. Trong khi đó cho đến nay người Mường vẫn giữ món cơm đồ gạo nương, cơm lam ống nứa không có gì thay đổi cả.


Nhà sàn bê tông. Khi người ta còn hoài cổ mà gỗ lại không còn. Hiện nay khi về Hòa Bình nói chung hay Mường Riệc nói riêng không khó để bắt gặp những ngôi nhà sàn lợp ngói, mái tranh hoặc mái tôn. Nhưng đại đa số là chất liệu bằng bê tông 


Toàn bộ khung nhà làm bằng bê tông cốt thép 


Nhà Sàn vẫn đảm bảo được nét đẹp của nhà sàn người Mường xưa với nhưng vật liệu thời bấy giờ 


Ngôi nhà thoáng đãng rộng rãi trông như được thật sự làm bằng gỗ gợi nhớ nhà sàn ngày xưa 





Nhưng họa tiết trang trí để tăng thêm vể đẹp ngôi nhà. Mang phóng cách hiện đại thêm chút hoài cổ nhà sàn hiện tại rất được ưa chuộng tại nơi này

Nói đến Hòa Binh mọi người đều nghĩ ngay đến công trình thế kỷ Thủy điện Hòa Bình. Hay những món ăn của núi rừng đậm chất Tây Băc.



Một điều không thể không nhắc đến khi đến Hòa Bình đó là những cô gái Mường tươi trẻ khoác lên mình bộ váy áo truyền thống của dân tộc họ.




Nét đẹp sơ khai trong trẻo của con người Mường Vang nói riêng và người mường Hòa Bình nói chung. Đó là những nhận xét khi bạn nhìn thấy vẻ đẹp của cô gái Mường Vang.




Nhắc đến văn hóa người Mường người ta sẽ nhắc đến ngay nét sinh hoạt thường ngày, hay những bộ váy áo của chị em tất cả đã làm nên nét đẹp của con gái Mường.





 Thiếu nữ Mường rạng ngời trong bộ váy áo.

Dân tộc Mường sống dọc theo chân núi Trường Sơn, Nhưng tập trung nhiều ở Hòa Bình và Thanh Hóa, Phú Thọ. Phụ nữ Mường mặc váy và quấn khăn trắng. Nhà sàn bằng tre nứa lợp rơm, nay thì làm bằng bê tông cốt thép. Người Mường hiện nay đã không còn những tập tục lạc hậu. sau đay là một vài nét về người Mường.


Đội cồng chiêng của bản làng

Tiếng cồng chiêng vang lên trong bản làng khi lễ hội và các nghi lễ khác. Người Mường ăn cỗ bằng thịt heo và xôi nếp gói lá chuối, không dùng bát đĩa.


Một nét trong sinh hoạt của người Mường



Uống rượu cần - nét văn hóa đặc trưng của người Mường


Vào những ngày lễ tết khi bạn đến Mường Riệc bỗng nghe đâu đó có tiếng cồng Chiêng thì đó là điệu hát sắc bùa nét đặc trưng của nét văn hóa Mường.



Hát sắc bùa đó là nét sinh hoạt văn hóa của người Mường Hòa Bình nói chung và Mường Riệc nói riêng. Được biết những điệu múa trong hát sắc bùa là cách điệu đi những hành động quen thuộc trong cuộc sống như đi cấy, trồng ngô, …. Nhưng đã được chị em cách điệu đi để trở thành điệu múa tuyệt vời mà văn hóa mường mang lại cho cuộc sống văn hóa nơi này.





Hát sắc bùa thường được diễn vào mùa xuân, đặc biệt là các ngày tết, bao gồm một đoàn người là các đôi trai gái, nam mang Cồng chiêng , nữ mang "sênh tiền", đứng đầu là một vị trưởng đoàn đi đến từng nhà và hát chính, đoàn nam nữ đi theo để phụ họa. Các bài hát sắc bùa mang nội dung ca ngợi mùa xuân, ca ngợi chủ nhà và chúc chủ nhà một năm mới an lành thịnh vượng. Chủ nhà mời đoàn hát sắc bùa vào nhà xông đất để mong một năm mới tốt đẹp.


Gia chủ thiết đãi đoàn sắc bùa chúc tết 



 Xem sắc bùa tại đây => https://www.youtube.com/watch?v=YLR7fpYC094


Xem thêm => mat ong nguyen chat 


Mường Riệc lại bắt đầu vào vụ mới, Bao đời nay vụ lứa Chiêm này vẫn là màu mà bà con vất vả nhất. Nhaung nếu như được màu thì lại bội thu, Nhưng mỗi khi mất muà thì mất trắng vì thiếu nước để tưới tiêu. 



Mường Riệc chuẩn bị cho vụ chiêm. ( ảnh Ivon)

Cuối tháng Giêng cái nắng chói chang lại đổ xuống nơi vùng quê.

dân gian có Câu " tháng 3 ca có bãi hói Riệc" tạm dịch là tháng 3 gà rừng kiếm ăn ở suối qua Mường Riệc. Câu nói trên có nghĩa là nơi đây cứ vào tháng 2 tháng 3 là suối cạn khô. con người ở đây vô cùng vất vả để lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng vụ này.




Đường xuống "nà khái" (ảnh Ivon)


Ở đây cứ mỗi vụ làm đồng dân sẽ cùng nhau đi tu sửa lại kênh rạch để lấy nước. để có thể lấy nươc người ta phải chia nhau đi rong nước về ruộng. Không biết từ bao giờ công việc này lại trở nên quen thuộc.

Còn nhớ hồi nhỏ tầm 12, 13 tuổi cho đến khi đi học và đi làm, thì tôi mới không phải đi thay bố mẹ để trông nước về làng.

Mặc dù ban ngày trời nắng nhưng khi đêm đến trời rất lạnh lúc đó lại được mấy cô máy bác lại cho về sớm vì còn trẻ con. nhưng khi 17, 18 tôi lại bỏ về :D

                                                                 


Boymoon


Cũng như bao gia đình khi đón tết cổ truyền người Mường cũng đón Tết, đón ngàn vạn điều may mắn.
Ngày tết của người Mường không thể thiếu bánh trưng, xôi gấc..., để cúng gia tiên.


 Một góc mâm cơm cúng gia tiên truyền thống người Mường


Vào ngày mùng 1 Tết mọi gia đình đều chuẩn bị để cúng ông bà tổ tiên với mâm cỗ tươm tất nhất có thể, tùy từng gia đình mà mâm cỗ sẽ có các món như: nem. chả xương (xương sống hoặc sương sọ lợn được băm nhỏ nướng với lá lốt và lá bưởi,) chả chìa ( giẻ sườn lợn được lột thịt về 1 đầu xương chặt nhỏ gói lại với lá lốt, lá bưởi), mọc (thịt nạc băm được khuấy với trứng gà rồi hấp) bánh rán, bánh trôi, xôi, và không thể thiếu đó là mâm cỗ đựng trên lá chuối mâm cộ.





Bữa cơm cúng gia tiên và bữa cơm đầu năm của một gia đình người Mường


Sau khi dọn cơm cúng ông bà tổ tiên thì con cái trong gia đình sum vầy bên mâm cỗ đầu năm để đón năm mới và chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất.


Mường riệc 


Đẹp giản dị quê hương nơi miền sơn cước. đó là cảm nhận chắc chắn sẽ có của bạn khi đặt chân đến mảnh đất yêu dấu này. 

Với những con người chân chất mến khách Mường Riệc luôn làm cho khách phương xa nếu ttuowngf đến luôn ngĩ về nó và muốn một ngày sớm nhất trở lại. 













hãy một lần đến nơi đây bạn nhé để được hít thở bầu không khí trong lành tránh xa nơi phố hội đông đúc bon chen, và thưởng thức những món ngon mà không nơi đâu có được.

Tag: Mat ong nguyen chat, mat ong rung

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.